Thứ năm, ngày 28 tháng bảy năm 2011

Nét duyên sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có nét riêng và độc đáo, không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà còn bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác. Đó là những sản phẩm có bản sắc riêng của dân tộc Việt.
Cói Việt Trang
Các sản phẩm của Công ty Việt Trang được làm từ cây cói ở vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Không ở đâu hơn Nga Sơn có sợi cói nhỏ, dài và mềm mại đến thế. Ngoài sản phẩm chiếu truyền thống, Việt Trang còn có nhiều sản phẩm hấp dẫn khác: chiếu du lịch hai gấp, ba gấp, bốn gấp tiện lợi, giỏ đựng hoa quả, làn, bình hộp có nắp, đệm... kiểu dáng thanh thoát, trẻ trung. Bên cạnh sản xuất các mặt hàng thô, đơn giản như chiếu, bao bì, thảm, đệm, theo sự phát triển của kỹ thuật và nhu cầu thị trường, các sản phẩm cói liên tục được cải tiến thành nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ đa dạng, tinh xảo và có giá trị cao như mũ, giầy dép cói, túi xách, làn, hộp, lẵng, khay cói…
Từ chất liệu thiên nhiên như sợi cói và sợi lục bình, những chiếc túi cói luôn mang lại cảm giác thoáng mát và tự nhiên cho người sử dụng. Kiểu dáng thông dụng và phong phú từ hình bán nguyệt, hình tứ giác kết hợp với gam màu rực rỡ như cam, vàng, xanh lá hay xanh cô-ban được giới trẻ rất ưa chuộng. Các chi tiết làm điệu ngộ nghĩnh trang trí trên nền màu chủ đạo cực kỳ bắt mắt và nổi bật. Hiện nay, người tiêu dùng còn có thể đặt hàng mọi sản phẩm từ cói với đủ các loại kích cỡ, mẫu mã.
Gốm Chu Đậu
Gốm Chu Đậu (Hải Dương) có từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc, với đỉnh cao hưng thịnh vào thế kỷ XV - XVII, thuộc dòng gốm mỹ nghệ cao cấp Việt Nam và quốc tế. Căn cứ vào những giá trị lịch sử văn hóa, di tích khảo cổ học Chu Đậu đã được xếp hạng cấp quốc gia. Sau 500 năm thất truyền, hiện gốm Chu Đậu đang hồi sinh và phát triển, dần trả lại một chương trong kho tàng di sản nghệ thuật văn hóa vô giá tưởng chừng như đã vĩnh viễn mất đi.
Cổ vật có giá trị nhất là chiếc bình gốm men trắng, hoa lam, dáng bình củ tỏi, cao 54cm, được trang trí hoa sen và cúc dây do nghệ nhân họ Bùi, người Chu Đậu vẽ vào năm 1450. Hiện nay, chiếc bình gốm này được lưu giữ tại bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ), được bảo hiểm với số tiền 1 triệu USD; và nhiều hiện vật quý hiếm khác đang được lưu giữ tại 46 bảo tàng quốc gia trên thế giới, trong đó có 22.000 cổ vật được lưu giữ tại bảo tàng Hải Dương.
Trải qua một thời gian dài bị thất truyền, Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro) đã và đang phục hưng lại làng nghề, vùng gốm cổ Chu Đậu, tạo nên sản phẩm gốm hiện đại và được xuất khẩu đi 52 nước trên thế giới.
Gốm Chu Đậu với kiểu dáng tự nhiên, men sáng, hoa văn họa tiết dung dị, men trắng ngà, xanh lam, tam thái thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam mang một phong cách gốm thuần chất Việt, với những nét vẽ tài hoa đã phản ánh trung thực nền văn minh của châu thổ sông Hồng.
Hai sản phẩm tiêu biểu đặc sắc nhất của gốm Chu Đậu cổ là chiếc bình hoa lam và bình Tỳ bà còn được gọi là bình cha, mẹ tượng trưng cho âm dương - trời đất - vợ chồng. Bình Tỳ bà mang dáng hình cây đàn tỳ bà tượng trưng cho phái âm, đất, mẹ, hiện thân cho phụ nữ Việt Nam. Họa tiết lông chim Lạc Việt chạy quanh miệng bình thể hiện truyền thống của con Rồng cháu lạc. Vai bình vẽ họa tiết ngũ hành (kim, thủy, mộc, hỏa, thổ). Thân bình thể hiện bằng họa tiết tùng, cúc, trúc, mai với sóng nước. Phần chân bình được tạo viền bởi những họa tiết cánh hoa sen, thể hiện đạo giáo người Việt.
Bình hoa lam trong dân gian được gọi là bình củ tỏi. Theo khái niệm triết học phương Đông, bình củ tỏi mang tính dương, thể hiện người chồng, người cha, là trụ cột, nền tảng, là chỗ dựa vững chắc và xa hơn nữa, là trời đất vũ trụ. Hoa văn được trang trí bằng hoa cúc đại đóa, bình hoa lam thể hiện cho người chính nhân quân tử.
Cùng với bình Tỳ bà và bình hoa lam, độc bình cũng là một sản phẩm có từ lâu đời. Độc bình Chu Đậu với những hoa văn sơn thủy hữu tình sắc nét và tinh xảo đậm phong cách Á Đông. Thời xưa, người ta thường sử dụng độc bình để điều hòa thời tiết, còn ngày nay, độc bình trở thành vật trang trí, trưng bày trong gia đình. Bên cạnh đó, bình vôi, những chiếc chân đèn trang trí, bình hổ phù trừ tà, bình Lã vọng cắm hoa của Chu Đậu cũng rất được quan tâm.
Tranh đá quý Ngọc Bảo – Lục Yên Đây là tranh nghệ thuật, chế tác từ các loại đá quý hiếm được khai thác từ vùng mỏ đá quý Lục Yên (Yên Bái), với nhiều màu sắc phong phú, đa dạng.
Đá quý sau khi khai thác từ mỏ sẽ qua công đoạn làm sạch, tuyển chọn màu, phân loại các kích cỡ hạt. Tùy theo chi tiết trên tranh mà người thợ làm tranh phải gia công đá theo các kích cỡ bột hạt to nhỏ khác nhau để đưa vào tranh.
Tranh đá quý là dòng tranh làm bằng các loại đá quý hiếm của thiên nhiên, sau khi được gắn ghép thành tranh sẽ tạo ra độ bền đẹp về chất liệu và màu sắc hơn hẳn các dòng tranh khác trên thị trường. Một đặc trưng nổi bật của tranh đá quý là được sản xuất thủ công, với tay nghề khéo léo của người thợ. Do đó, ngoài giá trị nghệ thuật bền đẹp sang trọng, mang tính thẩm mỹ cao, tranh đá quý còn là tài sản có giá trị.
Các loại đá quý được sử dụng để làm tranh như Ruby, Sapphire, Tourmaline, Quartz, Zicon, Spinel, Peridot, Garnet... là tất cả sự thuần khiết tinh tế nhất của trời và đất do thiên nhiên ban tặng cho con người.
Mỗi bức tranh đá khổ 90 x 120cm cần hàng nghìn hạt đá quý. Trong nghệ thuật vẽ sơn dầu, bột màu, họa sỹ có thể pha, phối hai hoặc nhiều loại màu theo công thức và lôgíc để có mầu thứ ba chuẩn, thì trong xưởng tranh đá, phải tìm ra màu đá sẵn có đúng ý tưởng. Tùy độ nhạt đậm sắc màu, hình khối mà rắc liều lượng đá màu, rắc đá hạt hay đá bột, đá hạt to hay hạt nhỏ, rắc thưa hay mau…
Giá trị của mỗi bức tranh đá không chỉ do khổ tranh lớn hay nhỏ, ý tưởng, chi tiết mà còn vì chất liệu đá, kiểu hạt đá. Tranh càng rắc nhiều đá quý, đá hiếm (chẳng hạn ruby, saphia cao cấp) và hạt đá càng to, mẩy, óng… thì giá càng đắt. Thông thường, một bức tranh khổ 90 x 120cm, cũng có giá từ 2 đến 3 triệu đồng; có những bức có giá lên tới 10 triệu đồng, làm cả tháng trời mới xong. Vì nguyên liệu chính là đá quý thiên nhiên nên tranh có sắc màu vĩnh cửu, không bị tác động bởi nhiệt độ, môi trường. Sau một thời gian treo tranh nếu bị bám bụi, có thể tháo xuống dùng nước xà bông và bàn chải mềm cọ rửa, tranh cũng không bị hư hỏng về màu sắc cũng như độ bền.
Để đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, cơ sở tranh đá quý Ngọc Bảo còn nhận đặt và chế tác theo mẫu mã, ý tưởng của khách, có catalogue với nhiều bức hình mẫu để lựa chọn. Tùy theo kích cỡ, kiểu dáng mà tranh đá quý có khung giá khác nhau, từ 500.000 đồng đến vài triệu đồng. Để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào, nên chọn những bức tranh có hình các loại hoa như: hoa lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500.000 - 600.000 đồng); bức tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo những bức tranh có chủ đề tượng trưng cho 4 mùa (xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,6 - 2,8 triệu đồng. Riêng phòng khách, nên đặt hoặc treo những bức tranh đá quý có phong cảnh đồng quê với tùng hạt, tứ mã, cọp... Loại tranh này đang được khách hàng ưa chuộng, mua dành tặng vào những dịp lễ tân gia, sinh nhật, khai trương..., có giá từ 900.000 đồng đến vài triệu đồng.
Trầm hương Sơn Hàn Theo nguyên ngữ, trầm nghĩa là chìm, hương là mùi thơm tỏa xuống nước thì chìm, đốt thì bốc mùi thơm, nên người ta dựa trên lý tính mà gọi là trầm hương. Trầm hương là lõi của cây dó bầu, là loại có giá trị độc đáo. Trầm hương được phân loại gồm trầm kỳ, trầm từ loại 1 đến 6 và trầm sôlô (là rác và lõi lộn xộn, giá cũng rất đắt).
Trầm kỳ (còn gọi là trầm bắp) có hình dạng giống như bắp chuối, có khi kỳ hình dị tướng nên gọi là trầm kỳ, không có hình dạng nhất định, rắn và nặng, có nhựa dẻo, đốt cháy thì sôi phồng lên và tỏa hương thơm, loại này rất quý hiếm, xưa nay chỉ có bậc vua chúa và quý tộc mới có điều kiện sử dụng, thưởng thức, ngoài ra dân gian không ai có khả năng mua dùng nổi vì giá rất cao, có khi là vô giá (bán bao nhiêu tùy ý chứ không có giá nhất định trên thị trường).
Các sản phẩm trầm hương của Sơn Hàn thường làm từ trầm loại 1 đến loại 6 và trầm sôlô với nhiều mẫu mã phong phú, chất lượng cao, do đội ngũ nghệ nhân làm trầm truyền thống, nổi tiếng của làng quê xứ Quảng. Sản phẩm được trồng và chế biến từ cây dó bầu Quảng Nam - quê hương của cây dó. Hiện nay, Sơn Hàn đã có nhiều trang trại lớn, với hàng trăm ha cây dó, làm nguyên liệu sản xuất trầm hương chất lượng cao.
Các sản phẩm từ trầm hương như nhang trầm, bột nhang, tinh dầu trầm, cây cảnh… Ngoài ra, còn có các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây dó bầu như chuỗi hạt, tượng khắc rất đặc sắc.
Đá mỹ nghệ Non Nước
Làng đá mỹ nghệ Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, là nơi sản xuất đồ mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Nguyên liệu để làm ra các sản phẩm mỹ nghệ là đá cẩm thạch trước đây được khai thác ở núi Ngũ Hành Sơn có nhiều vân ngũ sắc, vẻ đẹp cao sang, là mặt hàng được ưa chuộng trong xây dựng và kiến trúc.
Theo các nghệ nhân cao tuổi ở làng đá Non Nước, nghề chế tác đá mỹ nghệ Non Nước được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII, do nghệ nhân Huỳnh Bá Quát khai phá, sang thế kỷ XIX thì cả làng đều sinh sống bằng nghề chế tác đá.
Có thể nói làng đá mỹ nghệ Non Nước hình thành và phát triển nhờ tận dụng và kết hợp được các yếu tố nguyên liệu, nhân lực và thị trường để sản xuất kinh doanh làm nên thương hiệu đá mỹ nghệ đặc sắc.
Sản phẩm của làng đá Non Nước hiện nay hết sức đa dạng, phong phú về đề tài, chủng loại kích cỡ, từ những vật dụng hàng ngày như chày, cối, cốc, chén, ấm trà bằng đá... đến tượng nhân sư, thần Vệ Nữ, danh nhân đất Việt, danh nhân thế giới, Phật Di Lặc, Phật bà Quan Âm, Sư tử, Hổ, Báo, Đại bàng... Có tượng chỉ bằng ngón tay, có tượng to bằng người thật, hết sức tinh xảo, sinh động. Sản phẩm của làng đá mỹ nghệ Non Nước không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trong nước, mà còn xâm nhập vào nhiều thị trường lớn như Mỹ, Australia, Nhật Bản, châu Âu...
Các cơ sở sản xuất ở Non Nước không chỉ tổ chức dạy nghề đào tạo thợ tại chỗ, mà còn đầu tư cho con em vào học ở các trường đại học về điêu khắc, mỹ thuật công nghiệp..., mời các hoạ sỹ có tên tuổi thiết kế mẫu mã, kiểu dáng để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng.
Hiện tại, làng đá mỹ nghệ Non Nước có hơn 350 hộ sản xuất kinh doanh chế tác sản phẩm đá mỹ nghệ, với hơn 3.000 lao động. Doanh thu từ nghề đá mỹ nghệ hàng năm đạt từ 100 - 120 tỷ đồng. Nằm ngay trong danh thắng Ngũ Hành Sơn (quanh chân ngọn Thuỷ Sơn), nên từ lâu, làng đá mỹ nghệ Non Nước đã trở thành một điểm tham quan, mua sắm lưu niệm hấp dẫn của du khách mỗi khi đến Đà Nẵng.
Mành tre mỹ nghệ Trọng Lệ
Mành tre, mành trúc có thể mang lại vẻ đẹp bất ngờ và có những công dụng mà các loại vật liệu khác không có được. Mành có thể tạo nên những mảng trang trí sinh động, dù thô mộc nhưng thân thiện.
Sản phẩm mành tre Trọng Lệ được cấu thành từ nan tre và sợi vải. Nan tre được làm từ cây giang (họ nhà tre), có đường kính từ 5 - 10cm, gióng dài nhất là 1m. Để chế tác thành nan cho dệt mành, người thợ thủ công dùng dao nhỏ lột lấy 2 phác áp cập, mỗi phác có chiều dày 0,4mm, sau đó tước thành nan có kích thước 0,4mm x 0,4mm. Sợi được se từ bông vải có pha thêm nilon để đảm bảo độ bền chắc cho sản phẩm. Hai nguyên liệu trên được hấp màu theo ý muốn để đảm bảo độ phai không đáng kể khi giặt.
Do nan tre được lấy từ phần cật nên đạt được độ dẻo, bền chắc. Nan tre chỉ cần phơi nắng cho khô, không cần xử lý hóa chất mà không bị mốc hay mối mọt. Sợi để dệt mành có độ dày 1mm/đường sợi, nên đảm bảo độ bền chắc cho sản phẩm mành tre mỹ nghệ.
Các sản phẩm từ mành tre gồm có mành rèm che cửa sổ có khổ rộng tối đa là 80cm, quạt mành trang trí có đường kính tối đa là 1,6m, vỏ bọc đệm và đệm tựa ghế salon, mành lót khay và khăn trải bàn, mành dệt tranh và dệt hoa văn, bình phong.
Để khẳng định gu thẩm mỹ và cá tính, một số chủ nhân của ngôi nhà thích lựa chọn những hình, ảnh, kích cỡ mà mình yêu thích để vẽ lên mành tre. Đây là một thú chơi mới và rất độc đáo mà từ trước tới nay ít người biết đến. Dùng mành quấn quanh những đèn trang trí lớn khá thích hợp để điều tiết ánh sáng và tạo phong cách lạ. Mành tre đưa vào kiến trúc hiện đại tạo nên sắc thái mới, ngay cả ở các phòng trưng bày. Khi kết hợp với chất liệu như sắt, nhôm... sẽ tạo nên những kiểu trang trí ấn tượng. Ngoài ra, mành còn được sử dụng như vách ngăn hờ, một cách phân chia không gian mang tính ước lệ.
Mành tre có khả năng che nắng rất tốt. Chất liệu tre tự nhiên đã được xử lý cong, vênh, chống mối mọt, giúp chống chịu rất tốt các tác động của thời tiết, dễ dàng vệ sinh bụi bẩn.

Tư Cầm

0 nhận xét:

Đăng một Nhận xét