Trung Quốc trở thành thị trường Năng lượng gió lớn nhất thế giới.

Tổng công suất thị trường Năng lượng gió toàn cầu đã tăng 31% vào năm 2009 với Trung Quốc hy vọng sẽ đạt được mục tiêu không chính thức là 150 gigawatts (GW) năng lượng gió trước năm 2020.

Rèm cửa sổ cho phòng " girl teens"

Ngọt ngào như những viên kẹo đường là cảm nhận đầu tiên khi ngắm nhìn những mẫu thiết kế phòng ngủ dưới đây. Hãy để cho công chúa nhỏ nhà bạn được thỏa sức và bay bổng trong những giấc mơ lãng mạn của tuổi mới lớn.

Pin năng lượng mặt trời sẽ rẻ nhờ sản xuất trong nước

Ngày 20/3, nhà máy sản xuất pin sử dụng năng lượng mặt trời đầu tiên tại Việt Nam chính thức khởi công xây dựng. Công trình hứa hẹn sẽ cho ra đời những sản phẩm có giá thành thấp hơn pin nhập khẩu từ 15 đến 20%.

SongDa Riverside Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt Vượt Trội

Ngày 21 tháng 7, Cty CP Đầu tư Phát triển Sông Đà và Cty chứng khoán Kim Long đã tổ chức Hội thảo giới thiệu cơ hội đầu tư tại khách sạn New World. Gian phòng khoảng 300 khách nhưng số người đến dự vượt gấp rưỡi sức chứa của phòng nên nhiều người phải đứng ngoài hành lang.

Cơ hội cho hàng thủ công mỹ nghệ

Theo thống kê năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (thủ công mỹ nghệ) của Việt Nam ước đạt 630,4 triệu USD. Nhiều ý kiến cho rằng đóng góp của ngành hàng này còn quá thấp, mới chỉ đạt chưa đầy 3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Thứ bảy, ngày 27 tháng tám năm 2011

6 ý tưởng cải thiện môi trường đoạt giải xuất sắc

Những dự án bảo vệ môi trường trong đó có dự án Excavatus với ý tưởng kinh doanh từ giun quế và phân bò, giúp một vùng quê giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường vì phân thải của trâu bò, đã đoạt giải thưởng Ý tưởng xuất sắc nhất.
6 ý tưởng xuất sắc nhất trong cuộc thi E-ideas do Hội đồng Anh và Tổ chức Bảm đảm chất lượng Lloyd’s Register Quality Assurance (LRQA) phối hợp tổ chức vừa được công bố tại Hà Nội. Theo ban tổ chức, trong số các dự án đoạt giải, dự án Excavatus đã làm ngạc nhiên Ban giám khảo với ý tưởng kinh doanh từ giun quế và phân bò, giúp một vùng quê giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường vì phân thải của trâu bò. Dự án này xuất phát từ thực tế là phân trâu bò có thể dùng làm thức ăn cho giun quế và giun quế lại là nguồn thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng. Hơn nữa, phân giun quế được biết đến là loại phân bón hữu cơ và chất dưỡng đất giàu dinh dưỡng nhất mà thị trường có nhu cầu tiêu thụ cao.
Trong khi đó, dự án Green Health – Sức khỏe xanh lại mang đến một ý tưởng còn táo bạo hơn. Green Health tham vọng chuyển hóa nguồn năng lượng được sử dụng khi người dân tập thể dục quanh hồ để vận hành một hệ thống lọc sạch nước hồ. Dự án được xây dựng dựa trên một thói quen của người Hà Nội là tập thể dục bên hồ mỗi sáng sớm hoặc chiều muộn.
Dự án Vertical Garden, Vườn Treo là một ý tưởng tuyệt vời khi tạo ra một không gian vườn cây cảnh/rau hữu cơ độc đáo, giúp giải quyết vấn đề thiếu không gian xanh trong mỗi gia đình tại đô thị. Với ý tưởng Vườn treo, thay vì trồng rau/ cây cảnh trên mặt phẳng ngang thường thấy, người dân sẽ sử dụng bộ sản phẩm panel tấm đứng được tác giả dự án thiết kế với hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh – những panel tấm đứng giúp tiết kiệm tối đa diện tích sử dụng, một khoảng không gian rộng chỉ 5m2 có thể trồng tới 750 chậu rau/ cây cảnh nhỏ. Bộ sản phẩm của Vertical Garden là một hệ thống hoàn chỉnh, sẵn sàng để đưa ra thị trường – và điều này thực sự gây ấn tượng với Ban Giám khảo.
Bên cạnh 3 ý tưởng này, các ý tưởng đoạt giải E-ideas khác bao gồm diễn đàn online về phát triển nông nghiệp hữu cơ, tái sử dụng rác thải trong học đường và sản xuất phân ủ hữu cơ tại gia đình. Theo đó, 6 ý tưởng đoạt giải được nhận phần thưởng 100.000.000 đồng/giải – khoản tiền này sẽ được sử dụng như là nguồn vốn hỗ trợ ban đầu để thực hiện dự án. Trước đó, một cuộc triển lãm các ý tưởng đoạt giải đã được tổ.
Ông Robin Rickard, Giám đốc Hội đồng Anh tại Việt Nam cho biết: Ngoài phần thưởng đã nhận, một đại diện từ mỗi dự án đoạt giải còn có cơ hội gặp gỡ với những người chiến thắng trong cuộc thi E-ideas tại các quốc gia khác trong một sự kiện được tổ chức tại Indonesia từ ngày 3-5/ 10 tới đây.
Được biết đã có 85 hồ sơ tham gia dự thi trong đó 18 hồ sơ được lựa chọn cho vòng phỏng vấn. Tác giả của tất cả 18 ý tưởng lọt vào vòng xét tuyển cuối cùng.  
P.Thanh

"Rừng đen" đoạt giải nhất LHP môi trường

Phim truyện Rừng đen của đạo diễn Vương Đức là một trong 4 tác phẩm đoạt giải cao nhất Liên hoan phim môi trường lần này.
Với giá trị giải thưởng 20 triệu đồng cho mỗi giải, ba tác phẩm khác cùng đoạt giải với "Rừng đen" bao gồm: Ngụ ngôn thời nay (phim tài liệu - Trung tâm Truyền hình VN tại Cần Thơ), Thiên tai và nhân tai (phim phóng sự - Trung tâm Truyền hình VN tại Đà Nẵng), Mẹo vặt (đạo diễn Nguyễn Nhân Lập, Hãng Phim hoạt hình VN).
Riêng bộ phim tài liệu "Tội ác rừng xanh" của đạo diễn Lê Hoài Phương đoạt giải VN xanh với giá trị giải thưởng 30 triệu đồng. Liên hoan phim môi trường toàn quốc năm nay có sự tham gia của 131 tác phẩm, gồm 70 phóng sự, 35 phim tài liệu, 18 phim khoa học, 4 phim hoạt hình và 4 phim truyện chủ đề về môi trường.

Thứ năm, ngày 28 tháng bảy năm 2011

Nét duyên sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có nét riêng và độc đáo, không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà còn bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác. Đó là những sản phẩm có bản sắc riêng của dân tộc Việt.
Cói Việt Trang
Các sản phẩm của Công ty Việt Trang được làm từ cây cói ở vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Không ở đâu hơn Nga Sơn có sợi cói nhỏ, dài và mềm mại đến thế. Ngoài sản phẩm chiếu truyền thống, Việt Trang còn có nhiều sản phẩm hấp dẫn khác: chiếu du lịch hai gấp, ba gấp, bốn gấp tiện lợi, giỏ đựng hoa quả, làn, bình hộp có nắp, đệm... kiểu dáng thanh thoát, trẻ trung. Bên cạnh sản xuất các mặt hàng thô, đơn giản như chiếu, bao bì, thảm, đệm, theo sự phát triển của kỹ thuật và nhu cầu thị trường, các sản phẩm cói liên tục được cải tiến thành nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ đa dạng, tinh xảo và có giá trị cao như mũ, giầy dép cói, túi xách, làn, hộp, lẵng, khay cói…
Từ chất liệu thiên nhiên như sợi cói và sợi lục bình, những chiếc túi cói luôn mang lại cảm giác thoáng mát và tự nhiên cho người sử dụng. Kiểu dáng thông dụng và phong phú từ hình bán nguyệt, hình tứ giác kết hợp với gam màu rực rỡ như cam, vàng, xanh lá hay xanh cô-ban được giới trẻ rất ưa chuộng. Các chi tiết làm điệu ngộ nghĩnh trang trí trên nền màu chủ đạo cực kỳ bắt mắt và nổi bật. Hiện nay, người tiêu dùng còn có thể đặt hàng mọi sản phẩm từ cói với đủ các loại kích cỡ, mẫu mã.
Gốm Chu Đậu
Gốm Chu Đậu (Hải Dương) có từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc, với đỉnh cao hưng thịnh vào thế kỷ XV - XVII, thuộc dòng gốm mỹ nghệ cao cấp Việt Nam và quốc tế. Căn cứ vào những giá trị lịch sử văn hóa, di tích khảo cổ học Chu Đậu đã được xếp hạng cấp quốc gia. Sau 500 năm thất truyền, hiện gốm Chu Đậu đang hồi sinh và phát triển, dần trả lại một chương trong kho tàng di sản nghệ thuật văn hóa vô giá tưởng chừng như đã vĩnh viễn mất đi.
Cổ vật có giá trị nhất là chiếc bình gốm men trắng, hoa lam, dáng bình củ tỏi, cao 54cm, được trang trí hoa sen và cúc dây do nghệ nhân họ Bùi, người Chu Đậu vẽ vào năm 1450. Hiện nay, chiếc bình gốm này được lưu giữ tại bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ), được bảo hiểm với số tiền 1 triệu USD; và nhiều hiện vật quý hiếm khác đang được lưu giữ tại 46 bảo tàng quốc gia trên thế giới, trong đó có 22.000 cổ vật được lưu giữ tại bảo tàng Hải Dương.
Trải qua một thời gian dài bị thất truyền, Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro) đã và đang phục hưng lại làng nghề, vùng gốm cổ Chu Đậu, tạo nên sản phẩm gốm hiện đại và được xuất khẩu đi 52 nước trên thế giới.
Gốm Chu Đậu với kiểu dáng tự nhiên, men sáng, hoa văn họa tiết dung dị, men trắng ngà, xanh lam, tam thái thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam mang một phong cách gốm thuần chất Việt, với những nét vẽ tài hoa đã phản ánh trung thực nền văn minh của châu thổ sông Hồng.
Hai sản phẩm tiêu biểu đặc sắc nhất của gốm Chu Đậu cổ là chiếc bình hoa lam và bình Tỳ bà còn được gọi là bình cha, mẹ tượng trưng cho âm dương - trời đất - vợ chồng. Bình Tỳ bà mang dáng hình cây đàn tỳ bà tượng trưng cho phái âm, đất, mẹ, hiện thân cho phụ nữ Việt Nam. Họa tiết lông chim Lạc Việt chạy quanh miệng bình thể hiện truyền thống của con Rồng cháu lạc. Vai bình vẽ họa tiết ngũ hành (kim, thủy, mộc, hỏa, thổ). Thân bình thể hiện bằng họa tiết tùng, cúc, trúc, mai với sóng nước. Phần chân bình được tạo viền bởi những họa tiết cánh hoa sen, thể hiện đạo giáo người Việt.
Bình hoa lam trong dân gian được gọi là bình củ tỏi. Theo khái niệm triết học phương Đông, bình củ tỏi mang tính dương, thể hiện người chồng, người cha, là trụ cột, nền tảng, là chỗ dựa vững chắc và xa hơn nữa, là trời đất vũ trụ. Hoa văn được trang trí bằng hoa cúc đại đóa, bình hoa lam thể hiện cho người chính nhân quân tử.
Cùng với bình Tỳ bà và bình hoa lam, độc bình cũng là một sản phẩm có từ lâu đời. Độc bình Chu Đậu với những hoa văn sơn thủy hữu tình sắc nét và tinh xảo đậm phong cách Á Đông. Thời xưa, người ta thường sử dụng độc bình để điều hòa thời tiết, còn ngày nay, độc bình trở thành vật trang trí, trưng bày trong gia đình. Bên cạnh đó, bình vôi, những chiếc chân đèn trang trí, bình hổ phù trừ tà, bình Lã vọng cắm hoa của Chu Đậu cũng rất được quan tâm.
Tranh đá quý Ngọc Bảo – Lục Yên Đây là tranh nghệ thuật, chế tác từ các loại đá quý hiếm được khai thác từ vùng mỏ đá quý Lục Yên (Yên Bái), với nhiều màu sắc phong phú, đa dạng.
Đá quý sau khi khai thác từ mỏ sẽ qua công đoạn làm sạch, tuyển chọn màu, phân loại các kích cỡ hạt. Tùy theo chi tiết trên tranh mà người thợ làm tranh phải gia công đá theo các kích cỡ bột hạt to nhỏ khác nhau để đưa vào tranh.
Tranh đá quý là dòng tranh làm bằng các loại đá quý hiếm của thiên nhiên, sau khi được gắn ghép thành tranh sẽ tạo ra độ bền đẹp về chất liệu và màu sắc hơn hẳn các dòng tranh khác trên thị trường. Một đặc trưng nổi bật của tranh đá quý là được sản xuất thủ công, với tay nghề khéo léo của người thợ. Do đó, ngoài giá trị nghệ thuật bền đẹp sang trọng, mang tính thẩm mỹ cao, tranh đá quý còn là tài sản có giá trị.
Các loại đá quý được sử dụng để làm tranh như Ruby, Sapphire, Tourmaline, Quartz, Zicon, Spinel, Peridot, Garnet... là tất cả sự thuần khiết tinh tế nhất của trời và đất do thiên nhiên ban tặng cho con người.
Mỗi bức tranh đá khổ 90 x 120cm cần hàng nghìn hạt đá quý. Trong nghệ thuật vẽ sơn dầu, bột màu, họa sỹ có thể pha, phối hai hoặc nhiều loại màu theo công thức và lôgíc để có mầu thứ ba chuẩn, thì trong xưởng tranh đá, phải tìm ra màu đá sẵn có đúng ý tưởng. Tùy độ nhạt đậm sắc màu, hình khối mà rắc liều lượng đá màu, rắc đá hạt hay đá bột, đá hạt to hay hạt nhỏ, rắc thưa hay mau…
Giá trị của mỗi bức tranh đá không chỉ do khổ tranh lớn hay nhỏ, ý tưởng, chi tiết mà còn vì chất liệu đá, kiểu hạt đá. Tranh càng rắc nhiều đá quý, đá hiếm (chẳng hạn ruby, saphia cao cấp) và hạt đá càng to, mẩy, óng… thì giá càng đắt. Thông thường, một bức tranh khổ 90 x 120cm, cũng có giá từ 2 đến 3 triệu đồng; có những bức có giá lên tới 10 triệu đồng, làm cả tháng trời mới xong. Vì nguyên liệu chính là đá quý thiên nhiên nên tranh có sắc màu vĩnh cửu, không bị tác động bởi nhiệt độ, môi trường. Sau một thời gian treo tranh nếu bị bám bụi, có thể tháo xuống dùng nước xà bông và bàn chải mềm cọ rửa, tranh cũng không bị hư hỏng về màu sắc cũng như độ bền.
Để đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, cơ sở tranh đá quý Ngọc Bảo còn nhận đặt và chế tác theo mẫu mã, ý tưởng của khách, có catalogue với nhiều bức hình mẫu để lựa chọn. Tùy theo kích cỡ, kiểu dáng mà tranh đá quý có khung giá khác nhau, từ 500.000 đồng đến vài triệu đồng. Để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào, nên chọn những bức tranh có hình các loại hoa như: hoa lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500.000 - 600.000 đồng); bức tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo những bức tranh có chủ đề tượng trưng cho 4 mùa (xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,6 - 2,8 triệu đồng. Riêng phòng khách, nên đặt hoặc treo những bức tranh đá quý có phong cảnh đồng quê với tùng hạt, tứ mã, cọp... Loại tranh này đang được khách hàng ưa chuộng, mua dành tặng vào những dịp lễ tân gia, sinh nhật, khai trương..., có giá từ 900.000 đồng đến vài triệu đồng.
Trầm hương Sơn Hàn Theo nguyên ngữ, trầm nghĩa là chìm, hương là mùi thơm tỏa xuống nước thì chìm, đốt thì bốc mùi thơm, nên người ta dựa trên lý tính mà gọi là trầm hương. Trầm hương là lõi của cây dó bầu, là loại có giá trị độc đáo. Trầm hương được phân loại gồm trầm kỳ, trầm từ loại 1 đến 6 và trầm sôlô (là rác và lõi lộn xộn, giá cũng rất đắt).
Trầm kỳ (còn gọi là trầm bắp) có hình dạng giống như bắp chuối, có khi kỳ hình dị tướng nên gọi là trầm kỳ, không có hình dạng nhất định, rắn và nặng, có nhựa dẻo, đốt cháy thì sôi phồng lên và tỏa hương thơm, loại này rất quý hiếm, xưa nay chỉ có bậc vua chúa và quý tộc mới có điều kiện sử dụng, thưởng thức, ngoài ra dân gian không ai có khả năng mua dùng nổi vì giá rất cao, có khi là vô giá (bán bao nhiêu tùy ý chứ không có giá nhất định trên thị trường).
Các sản phẩm trầm hương của Sơn Hàn thường làm từ trầm loại 1 đến loại 6 và trầm sôlô với nhiều mẫu mã phong phú, chất lượng cao, do đội ngũ nghệ nhân làm trầm truyền thống, nổi tiếng của làng quê xứ Quảng. Sản phẩm được trồng và chế biến từ cây dó bầu Quảng Nam - quê hương của cây dó. Hiện nay, Sơn Hàn đã có nhiều trang trại lớn, với hàng trăm ha cây dó, làm nguyên liệu sản xuất trầm hương chất lượng cao.
Các sản phẩm từ trầm hương như nhang trầm, bột nhang, tinh dầu trầm, cây cảnh… Ngoài ra, còn có các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây dó bầu như chuỗi hạt, tượng khắc rất đặc sắc.
Đá mỹ nghệ Non Nước
Làng đá mỹ nghệ Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, là nơi sản xuất đồ mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Nguyên liệu để làm ra các sản phẩm mỹ nghệ là đá cẩm thạch trước đây được khai thác ở núi Ngũ Hành Sơn có nhiều vân ngũ sắc, vẻ đẹp cao sang, là mặt hàng được ưa chuộng trong xây dựng và kiến trúc.
Theo các nghệ nhân cao tuổi ở làng đá Non Nước, nghề chế tác đá mỹ nghệ Non Nước được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII, do nghệ nhân Huỳnh Bá Quát khai phá, sang thế kỷ XIX thì cả làng đều sinh sống bằng nghề chế tác đá.
Có thể nói làng đá mỹ nghệ Non Nước hình thành và phát triển nhờ tận dụng và kết hợp được các yếu tố nguyên liệu, nhân lực và thị trường để sản xuất kinh doanh làm nên thương hiệu đá mỹ nghệ đặc sắc.
Sản phẩm của làng đá Non Nước hiện nay hết sức đa dạng, phong phú về đề tài, chủng loại kích cỡ, từ những vật dụng hàng ngày như chày, cối, cốc, chén, ấm trà bằng đá... đến tượng nhân sư, thần Vệ Nữ, danh nhân đất Việt, danh nhân thế giới, Phật Di Lặc, Phật bà Quan Âm, Sư tử, Hổ, Báo, Đại bàng... Có tượng chỉ bằng ngón tay, có tượng to bằng người thật, hết sức tinh xảo, sinh động. Sản phẩm của làng đá mỹ nghệ Non Nước không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trong nước, mà còn xâm nhập vào nhiều thị trường lớn như Mỹ, Australia, Nhật Bản, châu Âu...
Các cơ sở sản xuất ở Non Nước không chỉ tổ chức dạy nghề đào tạo thợ tại chỗ, mà còn đầu tư cho con em vào học ở các trường đại học về điêu khắc, mỹ thuật công nghiệp..., mời các hoạ sỹ có tên tuổi thiết kế mẫu mã, kiểu dáng để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng.
Hiện tại, làng đá mỹ nghệ Non Nước có hơn 350 hộ sản xuất kinh doanh chế tác sản phẩm đá mỹ nghệ, với hơn 3.000 lao động. Doanh thu từ nghề đá mỹ nghệ hàng năm đạt từ 100 - 120 tỷ đồng. Nằm ngay trong danh thắng Ngũ Hành Sơn (quanh chân ngọn Thuỷ Sơn), nên từ lâu, làng đá mỹ nghệ Non Nước đã trở thành một điểm tham quan, mua sắm lưu niệm hấp dẫn của du khách mỗi khi đến Đà Nẵng.
Mành tre mỹ nghệ Trọng Lệ
Mành tre, mành trúc có thể mang lại vẻ đẹp bất ngờ và có những công dụng mà các loại vật liệu khác không có được. Mành có thể tạo nên những mảng trang trí sinh động, dù thô mộc nhưng thân thiện.
Sản phẩm mành tre Trọng Lệ được cấu thành từ nan tre và sợi vải. Nan tre được làm từ cây giang (họ nhà tre), có đường kính từ 5 - 10cm, gióng dài nhất là 1m. Để chế tác thành nan cho dệt mành, người thợ thủ công dùng dao nhỏ lột lấy 2 phác áp cập, mỗi phác có chiều dày 0,4mm, sau đó tước thành nan có kích thước 0,4mm x 0,4mm. Sợi được se từ bông vải có pha thêm nilon để đảm bảo độ bền chắc cho sản phẩm. Hai nguyên liệu trên được hấp màu theo ý muốn để đảm bảo độ phai không đáng kể khi giặt.
Do nan tre được lấy từ phần cật nên đạt được độ dẻo, bền chắc. Nan tre chỉ cần phơi nắng cho khô, không cần xử lý hóa chất mà không bị mốc hay mối mọt. Sợi để dệt mành có độ dày 1mm/đường sợi, nên đảm bảo độ bền chắc cho sản phẩm mành tre mỹ nghệ.
Các sản phẩm từ mành tre gồm có mành rèm che cửa sổ có khổ rộng tối đa là 80cm, quạt mành trang trí có đường kính tối đa là 1,6m, vỏ bọc đệm và đệm tựa ghế salon, mành lót khay và khăn trải bàn, mành dệt tranh và dệt hoa văn, bình phong.
Để khẳng định gu thẩm mỹ và cá tính, một số chủ nhân của ngôi nhà thích lựa chọn những hình, ảnh, kích cỡ mà mình yêu thích để vẽ lên mành tre. Đây là một thú chơi mới và rất độc đáo mà từ trước tới nay ít người biết đến. Dùng mành quấn quanh những đèn trang trí lớn khá thích hợp để điều tiết ánh sáng và tạo phong cách lạ. Mành tre đưa vào kiến trúc hiện đại tạo nên sắc thái mới, ngay cả ở các phòng trưng bày. Khi kết hợp với chất liệu như sắt, nhôm... sẽ tạo nên những kiểu trang trí ấn tượng. Ngoài ra, mành còn được sử dụng như vách ngăn hờ, một cách phân chia không gian mang tính ước lệ.
Mành tre có khả năng che nắng rất tốt. Chất liệu tre tự nhiên đã được xử lý cong, vênh, chống mối mọt, giúp chống chịu rất tốt các tác động của thời tiết, dễ dàng vệ sinh bụi bẩn.

Tư Cầm

Hàng thủ công mỹ nghệ: Mất dần lợi thế

Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang có một hạn chế lớn, đó là khâu thiết kế kiểu dáng sản phẩm còn yếu kém.
Hiện nay, nhiều làng nghề, nhiều doanh nghiệp vẫn tự hào về truyền thống lâu đời, về tay nghề, tính nghệ thuật, sự độc đáo, ý nghĩa văn hoá của sản phẩm, các thiết kế sản phẩm mang tính độc nhất và của riêng làng nghề mình, doanh nghiệp mình. Trong khi đó, khả năng ứng dụng và tính thương mại của sản phẩm chưa được chú ý nhiều. Nếu chỉ đề cao tính nghệ thuật, sự đơn chiếc của sản phẩm thì đó chỉ là những mặt hàng lưu niệm đơn thuần, đối tượng mua hàng đa phần chỉ là những người khách du lịch. Loại hàng này hầu như không có cơ hội nhận được những đơn hàng lớn.
Một ví dụ cụ thể, đó là trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam rất được ưa chuộng ở thị trường Nhật Bản do sự mới lạ và giá rẻ nhưng gần đây, sức hấp dẫn đó đã bị giảm nhiều mà nguyên nhân chính là nhiều mẫu mã đã không có sự thay đổi trong suốt thời gian dài.
Một chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế hàng hóa của Nhật Bản cho rằng, chất lượng sản phẩm của Việt Nam ngày càng tốt hơn nhưng mẫu mã các sản phẩm xuất đi Nhật Bản thì hầu như chưa có tiến bộ. Theo ông, để khắc phục tình trạng này cần phải ngay lập tức cải tiến mẫu mã sản phẩm.
Một khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng cho thấy, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam yếu nhất ở hai khâu thông tin thị trường và kiểu dáng mẫu mã.
Việc sản xuất theo đơn đặt hàng của nhà nhập khẩu nước ngoài thường đem lại giá trị rất thấp. Anh Nguyễn Văn Bền, chủ một doanh nghiệp mây tre đan ở xã Phú Nghĩa cho một ví dụ: Đối với sản phẩm làn đựng quần áo loại lớn, khi hoàn thiện đến công đoạn đóng vào container, công ty anh được trả gần 300 nghìn đồng cho mỗi sản phẩm, tính ra xấp xỉ 15 USD. Trong khi đó, giá bán ở nước ngoài trung bình là 120- 150 USD. Hay mặt hàng khay đựng bằng mây tre đan, doanh nghiệp Việt Nam chỉ bán được 24 nghìn đồng, trong khi giá bán đến tay người tiêu dùng là 10 bảng Anh. Doanh nghiệp nước ngoài chỉ việc nhập hàng về phân phối, còn doanh nghiệp Việt Nam phải lo hoàn thiện tất cả các khâu, thậm chí phải dán sẵn đến cả chiếc tem ghi giá bán…

Hàng thủ công mỹ nghệ là một thế mạnh của Việt Nam, đem lại giá trị xuất khẩu cao. Hầu hết những mặt hàng này được sản xuất tại các hộ, các làng nghề nên giá thành tương đối thấp. Tuy nhiên, giá cả thấp không phải là tất cả, bởi khi mà thị trường ngày càng bão hoà với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thì sản phẩm có giá rẻ là chưa đủ để thoả mãn nhu cầu khách hàng. Những khách hàng thuộc tầng lớp trung lưu sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của họ.
Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, gốm sứ nói riêng và hàng thủ công của nước ta nói chung đang có những hạn chế đó là quy mô nhỏ lẻ, phân tán; mẫu mã đơn điệu, chậm được cải tiến; công nghệ chậm đổi mới… sức cạnh tranh của sản phẩm còn quá yếu, kể cả mẫu mã, giá cả, thương hiệu, đến sản xuất, tiêu thụ, tìm kiếm thị trường. Theo ông Tuấn, khâu cải tiến mẫu mã chính là một khâu tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhất nhưng đáng tiếc, đây lại là khâu chậm đổi mới của nhiều làng nghề hiện nay.

(congluan)

Tre trúc Xuân Lai

Làng nghề Tre trúc Xuân Lai thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Cách Hà Nội khoảng 30 km) được xem là cái nôi của tre trúc, người tiêu dùng đã quen với những cán cờ, cán quốc, thang tre hay tre trúc ốp tường xưa nay, ngày nay Xuân Lai còn nổi tiếng với các sản phẩm nội thất mỹ nghệ...từ tre, trúc khác, mặt hàng lớn như sa lông, xích đu, giá sách, nhà tre, bàn café, tủ ...nhỏ như lót cốc, mắc áo, lọ hoa...Đặc biệt, các sản phẩm từ tre có mầu nâu đen bóng mà không phải do sơn.
Các cụ ta ngày xưa chỉ dùng chiếu cói mà còn dùng cả chiếu tre, bàn ghế gỗ mà còn dùng cả bàn ghế tre, tủ tre.... Những đồ dùng và vật trang trí bằng tre được phối kết vững trắc cả về hình khố mầu sắc bền đẹp và có giá trị sự dụng cảo bởi sự tiện lợi và thoải mái của Cây tre quê hương. Chiếu được những thanh tre mảnh, nhẵn đan chặt vào nhau bằng dây mây. Chiếu này nằm thoáng mát và kiêm luôn cả giát giường. Chiếu tre thủ công có hai loại: Đen và Trắng. Loại đen để trần thanh tre, loại đen do một " công nghệ" đặc biệt mà dân làng Xuân Lai – Gia Bình tự hào về sự độc quyền đem lại một biên độ mầu hoà lẫn những cánh gián v ớ i gụ khó lẫn vào đâu được. Vật liệu để làm nên nhiều mặt hàng độc đáo trong đó có chiếu, tranh tre, đồ nội thất..., gọi là tre hun.

Sau khi được "cạo trấu" ngâm dưới ao vài tháng và một vài khâu khác, tre không phải gác bếp cho dính bồ hóng mà được hun trong lò dưới đất, tre gác lên trên, đắp kín gằng rơm chộn đất sét. lò này " chạy" bằng rơm, chỉ có khói không có lửa và được chát kín 4 ngày đêm, chỉ trừ những lúc tiếp nhiên liệu. Sản phẩm được dỡ ra trở nên nhẹ, dai và không phai mầu, chống mối mọt. Các sản phẩm làm từ tre và được hun theo phương thức nói trên theo người dân nơi đây kể lại từ 20-25 năm.
Hiện nay, Làng nghề Xuân lai tiếp tục được các nghệ nhân gìn giữ và Phát triển với những sản phẩm được trưng có giá trị sử dụng và nghệ thuật cao như Tranh tre, nội thất bằng tre và cả những công trình kiến trúc, khuôn viên đựơc thiết kế trang trí từ tre hun Xuân Lai. Sản phẩm của làng Xuân lai không chỉ được người dân trong nước đón nhận màcòn được bè bạn quốc tế biết đến qua các tour du lịch, qua các doanh nghiêp xuất khẩu đồ mỹ nghệ của Việt Nam và Quốc tế.

Nghề đan mây tre ở Du Tràng

Không quá náo nhiệt, sầm uất như các nghề thủ công khác, sự lặng lẽ và bền bỉ đã giữ cho Du Tràng (Giang Sơn, Gia Bình) một nghề với những sản phẩm độc đáo từ mây, tre. Nghề đan mây tre ở đây có từ hàng chục năm, trở thành nghề phụ quan trọng, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhiều người dân địa phương.
Thôn Du Tràng có 360 hộ thì hơn 100 hộ làm nghề đan mây tre. Hộ mới vào nghề cũng được 8 năm; nhiều hộ có “thâm niên” 30 năm. Ông Nguyễn Đình Đà, 58 tuổi, làm nghề đã hơn 20 năm, tâm sự: “Nghề này thu nhập không cao, nhưng có việc làm thường xuyên kể cả người già, trẻ em đều có thể làm được, trung bình mỗi ngày thu nhập từ 20 đến 30 nghìn đồng/ người”.
Nghề đan mây tre nơi đây bắt đầu từ những năm 1980 khi trong làng có một vài người dân đi làm thuê ở Hà Tây trước kia, mang nghề về làng. Ban đầu chỉ đan những dụng cụ phục vụ sinh hoạt trong gia đình như: Rổ, rá, thúng, nong, nia… Đến nay, các sản phẩm được đa dạng hơn. Từ những nguyên liệu mây, tre, nứa thô sơ, bằng đôi bàn tay khéo léo của người thợ đã biến thành những chiếc giỏ, bình, đĩa đựng hoa đủ các kích cỡ, màu sắc đẹp và tinh xảo. Để hoàn thiện một chiếc giỏ hoa phải mất 4, 5 công đoạn từ chẻ nan, đặt đáy, đan, quấn miệng. Mỗi sản phẩm làm ra tuỳ theo từng kích cỡ mà có giá khác nhau: loại nhỏ nhất 2 đến 3 nghìn đồng chiếc; giỏ đựng lẵng hoa to từ 5 đến 10 nghìn đồng chiếc. Mỗi ngày, với người đã làm quen tay có thể hoàn thành từ 30 đến 40 sản phẩm theo dây chuyền, mỗi tháng thu nhập bình quân từ 600 đến 900 nghìn đồng/ người. Để tiếp tục nhân rộng và phát huy nghề đan mây tre, đầu năm 2008 địa phương đã thành lập HTX Toàn Phong cung cấp nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm. HTX thường xuyên phối hợp với các Trung tâm dạy nghề của tỉnh, huyện về dạy nghề cho các xã viên. Qua một thời gian đào tạo, đến nay HTX đã có 100% xã viên biết nghề, trong đó 80% đã sản xuất được sản phẩm đạt chất lượng đúng theo yêu cầu. Hiện, HTX mây tre đan xuất khẩu Toàn Phong đã đi vào sản xuất với nhiều mặt hàng như: khay đựng trầu, giỏ, làn, đĩa, bình, mâm hoa quả, ... Vừa qua, HTX đã xuất một lô hàng gần 2.000 sản phẩm các loại, thu về hơn 10 triệu đồng. Nghề này có thể làm vào thời gian nông nhàn, mỗi năm xã viên chỉ làm 8 tháng, còn lại lo việc đồng áng. Nhiều xã viên nhận nguyên liệu về cho người thân trong gia đình mình cùng làm vào buổi tối, kể cả trẻ em hay người già.
Thời gian tới, HTX Toàn Phong tiếp tục mở thêm nhiều lớp đào tạo mới đáp ứng nhu cầu của người dân. Ngoài ra, HTX sẽ chủ động tìm đầu mối trực tiếp thu mua nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm không qua trung gian, nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng giá thành sản phẩm, nâng cao thu nhập cho xã viên. Với thuận lợi như hiện nay sản phẩm làm ra đến đâu đều được tiêu thụ đến đấy, nên HTX đặt kế hoạch từ nay đến cuối năm sẽ sản xuất nhiều mặt hàng nhằm đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng. Theo chị Nguyễn Thị Thinh, Chủ nhiệm HTX Toàn Phong thì khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là mặt bằng sản xuất, bên cạnh đó vấn đề vốn cũng khiến cho làng nghề gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, để hợp nhất khâu bao tiêu sản phẩm và duy trì phát triển nghề mới ở nông thôn, chính quyền địa phương cần có những chính sách cụ thể hỗ trợ kịp thời, đặc biệt mặt bằng sản xuất, vấn đề vốn, thị trường… nhằm tạo điều kiện cho nghề đan mây tre phát triển ổn định, giúp người dân có việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.

Chạm khắc Phù Khê

Xã Phù Khê (TX Từ Sơn) được thành lập từ thời An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thịnh vượng đến đời Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long. Triều đình có nhu cầu xây dựng cung điện, thành quách nên đã tuyển chọn những nghệ nhân tài hoa Phù Khê về chạm khắc rồng trong cung điện, lăng tẩm của vua, tượng trưng cho quyền lực tối cao, sau này rồng còn được chạm khắc trong nhiều đình, miếu và cả đồ thờ cúng tổ tiên.
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ ở Từ Sơn.

Theo các nhà nghiên cứu, đỉnh cao của nghệ thuật chạm rồng được chia thành 3 thời kỳ gắn với 3 triều đại phong kiến tiêu biểu: Con rồng thời Lý khỏe mạnh, đầu nhọn hơi uốn khúc. Ở thời kỳ này, con rồng được tưởng tượng ra từ con rắn, có thế mạnh mẽ của rắn thần. Con rồng thời Trần phát triển từ con rồng thời Lý, có thêm tóc bờm, sừng có vây... và các thế uốn lượn linh hoạt. Đến con rồng thời Nguyễn lại là sự tổng hợp của hai con rồng trước nên oai linh, uyển chuyển hơn với nhiều thế ẩn hiện trong mây gió. Ở thời kỳ nào, triều đại nào cũng có người thợ chạm Phù Khê vác chàng đục đi khắp nơi để lại dấu ấn rồng thiêng.
Qua ngàn năm lưu truyền, giữ gìn và phát triển, tác phẩm chạm khắc của người làng Phù Khê không chỉ hiện diện trong những công trình kiến trúc Việt Nam, trên bàn thờ tổ tiên người Việt mà đồ gỗ Phù Khê còn rất được thị trường nước ngoài ưa chuộng nhất là hình tượng con rồng qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân còn chiếm được cảm tình của người Trung Quốc khó tính. Phù Khê nhờ có nghề chạm khắc gỗ không chỉ tạo kinh tế phát triển mà còn thu hút được sức lao động tại chỗ. Nghề chạm rồng, làm đồ mỹ nghệ ở Phù Khê luôn được khuyến khích phát triển. Các nghệ nhân nơi đây sẵn sàng truyền nghề cho tất cả những ai có tâm huyết với nghề này. Trong đó phải kể tới nghệ nhân Nguyễn Kim vì có nhiều công sức vực dậy và đưa nghề chạm rồng Phù Khê thăng hoa, phát triển.
Ông Kim mầy mò đi khắp nơi, sang Trung Quốc học hỏi trở về truyền dạy cho hàng trăm học trò thành tài đam mê nghề Tổ chạm rồng. Nhờ việc đầu tư, tìm kiếm thị trường, thay đổi mẫu mã phù hợp với thị hiếu khách hàng mà sản phẩm mỹ nghệ Phù Khê rất ăn khách. Đến nay, thị trường sản phẩm mỹ nghệ Phù Khê đã trải rộng khắp mọi miền đất nước và được nhiều nước trên thế giới biết đến. Hiện nay làng Phù Khê hơn 400 thợ có tay nghề. Để bảo tồn nghề, hàng năm, vào đúng hội làng 12 tháng Giêng, trai tráng trong làng háo hức tụ họp ở sân đình thi tài.
Cùng với việc gìn giữ, để lại những giá trị văn hóa lâu dài trên quê hương, đất nước, những người thợ chạm Phù Khê đang thiết thực làm giàu hơn, đẹp hơn quê hương của họ. Con rồng người thợ Phù Khê chạm khắc trên gỗ nay đã và đang trở thành con rồng hiện hữu, biểu tượng cho sự giàu có, trù phú của một làng quê. Từ những khúc gỗ sần sùi, thô ráp được trai làng Phù Khê đục, tỉa, gọt, nạo để tạo ra những pho tượng, bức tranh mỹ nghệ đẹp mê hồn.
Theo thống kê, toàn xã có 4 công ty và hơn 80% dân số địa phương tham gia phát triển kinh tế từ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Ông Nguyễn Mạnh tiến, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Để tạo điều kiện cho người dân phát triển nghề truyền thống, chúng tôi thường xuyên quan tâm tạo điều kiện về thủ tục giúp nhân dân vay vốn từ các Ngân hàng, tổ chức tín dụng hàng chục tỷ đồng thông qua các Hội Nông dân, Phụ nữ… giúp các hội viên có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm.